Phân tích quyền tài phán của quốc gia ven biển tại các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và thực tiễn quy định của Việt Nam

0
16935

Chủ quyền là quyền làm chủ tuyệt đối của quốc gia độc lập đối với lãnh thổ của mình. Chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện trong phạm vi nội thủy và lãnh hải của quốc gia đó.

Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, như: cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó.

  1. Đường cơ sở: Đường cơ sở là cách nói ngắn của “đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”. Đường cơ sở không phải là một vùng biển của quốc gia hay quốc tế nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng vì chỉ khi xác định được đường cơ sở thì mới có thể xác định các vùng biển như vùng nội thủy, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế.

Về cách xác định: Theo quy định của Luật biển 1982 thì đường cơ sở bao gồm đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng (Điều 5 đến Điều 7). Phụ thuộc vào thực tiễn địa hình, cũng như kĩ năng và trình độ nhận thức của từng quốc gia mà mỗi quốc gia sẽ xác định đường cơ sở theo một trong hai hoặc cả 2 cách xác định mà luật quốc tế đã quy định sao cho quốc gia đó có lợi nhất. Cùng với xu hướng đó thì Luật biển Việt Nam đã quy định đường cơ sở là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố (Điều 8) – giống cách xác định đường cơ sở thẳng theo Điều 7 Luật biển 1982, Việt Nam đã lựa chọn một trong hai cách xác định mà luật biển quốc tế đã quy định vì với địa hình gồ ghề khúc khuỷu nếu xác định bằng đường cở sở thông thường (chỉ phù hợp với quốc gia có bờ biển bằng phẳng) thì khi xác định chiều dài lãnh hải sẽ hẹp hơn (tính từ bờ biển) so với cách xác định đường cơ sở thẳng.

Tọa độ các điểm nối đường cơ sở của Việt Nam

Đường màu đỏ nối 11 điểm từ Hòn Nhạn đến Cồn Cỏ gọi là đường cơ sở

Dù không có quy định cụ thể như trong Luật biển 1982 nhưng rõ ràng nhà làm luật đã ngầm ấn định các quy định về xác định đường cơ sở tại Luật biển Việt Nam 2012 sẽ theo quy định của Công ước Luật Biển 1982, pháp luật Việt Nam đã mô hình chung sử dụng các quy định của Công ước về Luật biển 1982 làm các căn cứ xác định đường cơ sở của Luật biển Việt Nam 2012, vậy sự tương thích ở đây là các quy định về căn cứ xác định đường cơ sở trong lãnh hải, quy định của Công ước là nền tảng và cũng là quy định của Luật biển Việt Nam 2012 về cách xác định đường cơ sở.

  1. Vùng nội thủy:

Các vùng biển của một quốc gia ven biển

Về cách xác định: Theo điều 8 của Luật Biển 1982, nội thủy là “các vùng nước nằm ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải”.

Điều 9 Luật Biển Việt Nam quy định: “Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam”. Đây là cách diễn đạt khác dựa trên cơ sở Công ước Luật Biển 1982, tính chất của việc xác định vị trí của vùng nội thủy đều giống nhau, phía trong tiếp giáp với bờ biển (thuộc đất liền), phía ngoài tiếp giáp với đường cơ sở của lãnh hải.

Về quy chế pháp lí: Nội thủy là một bộ phận lãnh thổ của quốc gia ven biển, có quy chế pháp lý như vùng nước ao hồ, sông ngòi trong lục địa và thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia . Tất cả mọi luật lệ ban hành của quốc gia ven biển đều có  hiệu lực cho vùng nội thủy cũng như trên đất liền. Chủ quyền này bao trùm lên toàn bộ vùng trời, vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển và vùng bên dưới lòng nước.

Theo quy định tại Điều 10 Luật biển Việt Nam nội thủy là một bộ phận lãnh thổ của quốc gia nên Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối đối với với nội thủy. Tuy chỉ quy định chung chung như vậy về quy chế pháp lí của vùng nội thủy nhưng Điều 22 về quy định chung các hoạt động trong vùng biển của Luật biển Việt Nam lại công nhận các quy định của pháp luật quốc tế có liên quan, điều đó có nghĩa là các quy định mà Luật biển 1982 mà ghi nhận các hoạt động trong vùng nội thủy thì Việt Nam đều công nhận. Cụ thể đó là mọi sự ra vào nội thủy của tàu thuyền cũng như phương tiện bay nước ngoài trên vùng trời nội thủy đều phải xin phép và khi vào trong nội thủy tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ các quy định của Việt Nam, nếu tàu thuyền nước ngoài vi phạm thì Việt Nam có quyền thực hiện các quyền tài phán dân sự. Với tàu thuyền Nhà nước được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, Việt Nam có quyền yêu cầu tàu thuyền vi phạm ra khỏi nội thủy và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của tàu mang cờ xử lý và bồi thường những thiệt hại do tàu thuyền gây ra nếu có. Như vậy qua đây ta có thể thấy được rằng mặc dù trong Luật biển Việt Nam không có những qui định cụ thể như trong Luật biển 1982 tuy nhiên việc thừa nhận áp dụng các quy định của Luật biển 1982 ở Việt Nam cũng làm rõ được sự tương đồng giữa 2 luật này.

Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong nội thủy

a, Đối với tàu quân sự (bao gồm cả tàu Nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại)

Các tàu thuyền quân sự thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quốc gia đó giao phó. Thành viên (thủy thủ đoàn) của tàu quân sự cũng chính là những công dân mang quốc tịch của quốc gia mà tàu mang cờ. Chính vì vậy, khi hoạt động ở bất cứ vùng biển nào kể cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia khác hay vùng biển quốc tế, tàu quân sự nước ngoài sẽ được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối, và bất khả xâm phạm.

Trong trường hợp tàu quân sự nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển thì quốc gia ven biển có quyền:

– Yêu cầu tàu đó ra khỏi vùng nội thủy trong một thời gian nhất định (có thể thông báo cho tàu đó biết quyết định của quốc gia chủ nhà bằng miệng hoặc bằng văn bản);

– Yêu cầu quốc gia mà tàu đó mang quốc tịch phải áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với thủy thủ đoàn vi phạm;

– Yêu cầu quốc gia có tàu phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của tàu đó gây ra trong nội thủy của quốc gia ven biển.

b, Đối với tàu dân sự

* Quyền tài phán dân sự

Về nguyên tắc, đối với tàu dân sự, luật điều chỉnh là luật của quốc gia mà tàu mang cờ. Chính vì vậy, các Tòa án của quốc gia ven biển không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự xảy ra giữa các thành viên của thủy thủ đoàn với các công dân nước ngoài không thuộc thủy thủ đoàn trên tàu mà vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của quốc gia tàu mang quốc tịch.

* Quyền tài phán hình sự

Tàu dân sự nước ngoài khi hoạt động trong nội thủy của quốc gia ven biển sẽ không được hưởng quyền miễn trừ như tàu quân sự. Bởi lẽ, tàu dân sự là những chiếc tàu do tư nhân, pháp nhân làm chủ hoặc là tàu nhà nước sử dụng vào mục đích thương mại như vận tải, buôn bán nhằm mục đích kiếm lãi. Chính vì vậy, theo luật quốc tế, quốc gia ven biển sẽ có thẩm quyền xét xử đối với các vụ vi phạm pháp luật hình sự xảy ra trong tàu dân sự nước ngoài đang hoạt động trong vùng nội thủy quốc gia ven biển. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia ven biển có quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các cá nhân có hành vi phạm tội trên tàuTuy nhiên, thông thường các quốc gia ven biển không quan tâm đến các vi phạm pháp luật chung nếu an ninh, trật tự trong cảng không bị tổn hại.

  1. Vùng lãnh hải:

Về cách xác định: Cả Công ước Luật  biển năm 1982 và Luật biển Việt Nam 2012 đều xác định lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài tính từ đường cơ sở ra phía biển và có chiêu rộng không vượt quá 12 hải lí tính từ đường cơ sở.

Về quy chếp pháp lí:

Nếu như vùng đất liền và vùng nội thủy quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối thì vùng lãnh hải dù cũng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia nhưng quốc gia ven biển đó cũng chỉ có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, vẫn có một số quyền mà quốc gia bị hạn chế (một trong số đó là quyền đi lại vô hại trong vùng lãnh hải của tàu thuyền nước ngoài) – điều này đều được cả 2 luật quy định.

Quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam

Tính chất chủ quyền của quốc gia ven biển với lãnh hải: Khoản 1 Điều 12 Luật biển Việt Nam 2012 quy định: “Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”. Như vậy, các nhà làm luật đã trực tiếp thừa nhận việc áp dụng các quy tắc về chủ quyền quốc gia ven biển trong lãnh hải là được thực hiện và quy định trên cơ sở của Luật biển 1982.

Quyền đi qua không gây hại dành cho tàu thuyền nước ngoài được quy định tại Khoản 2,3,4 Điều 12 Luật Biển Việt Nam. Luật biển 1982 có quy định cụ thể hơn tại Điều 19 đến Điều 23. Qua đó ta thấy các nhà làm luật ở Việt Nam đã căn cứ vào các quy định của công ước để đưa ra những quy định cụ thể, những trường hợp xác thực khi mà tàu thuyền muốn qua lại vùng lãnh hải của Việt Nam, nói đúng hơn là các nhà làm luật Việt Nam đã kế thừa và phát triển các quy định của công ước thành những quy định riêng, mang tính cụ thể trên thực tế của nước ta.

Quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng lãnh hải

a, Đối với tàu dân sự

– Quyền tài phán hình sự trên một tàu nước ngoài.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 27 Công ước 1982, về nguyên tắc, quốc gia ven biển không được quyền tài phán hình sự của mình ở trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trong khi nó đi qua lãnh hải, trừ các trường hợp sau đây:

+ Nếu hậu quả của vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển (điểm a);

+Nếu vụ vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong lãnh hải (điểm b);

+Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đương cục địa phương hoặc (điểm c);

+ Nếu các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chất kích thích (điểm d).

Tuy nhiên, quốc gia ven biển có quyền áp dụng mọi biện pháp mà luật trong nước mình quy định nhằm tiến hành các việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm ở trên con tàu nước ngoài đi qua lãnh hải, sau khi rời nội thủy.

Cần lưu ý rằng, khi thực hiện quyền tài phán hình sự của mình theo các quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 và khoản 2, Điều 27 Công ước 1982, nếu thuyền trưởng yêu cầu, quốc gia ven biển phải thông báo trước về mọi biện pháp cho một viên chức ngoại giao hay cho một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ và phải tạo điều kiện dễ dàng cho viên chức ngoại giao hay viên chức lãnh sự đó tiếp xúc với đoàn thủy thủ của con tàu. Trong trường hợp khẩn cấp, việc thông báo này có thể tiến hành trong khi các biện pháp đang được thi hành. Khi xem xét có nên bắt giữ và cách thức bắt giữ, cơ quan tiến hành bắt giữ phải chú ý thích đáng đến các lợi ích về hàng hải.

Theo khoản 5, Điều 27 Công ước 1982, trừ trường hợp áp dụng Phần XII hay trong trường hợp có sự vi phạm các luật và quy định được định ra theo đúng Phần V, quốc gia ven biển không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một con tàu nước ngoài khi nó đi qua lãnh hải nhằm tiến hành bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trước khi con tàu đi vào lãnh hải, nếu như con tàu xuất phát từ một cảng nước ngoài, chỉ đi qua lãnh hải mà không đi vào nội thủy.

– Quyền tài phán về dân sự

Theo quy định tại điều 28 Công ước 1982, quốc gia ven biển không được bắt một tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi quá trình của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối với một người ở trên con tàu đó.

Quốc gia ven biển không thể áp dụng các biện pháp trừng phạt hay biện pháp bảo đảm (messures conservatoires) về mặt dân sự đối với con tàu này, nếu không phải vì những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm mà con tàu phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển của quốc gia ven biển;

Khoản 2 không đụng chạm đến quyền của quốc gia ven biển áp dụng các biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trong nước của quốc gia này quy định đối với một tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nội thủy.

b, Đối với tàu quân sự

Phần 1, tiểu mục C Công ước 1982 quy định về quy tắc áp dụng cho tàu chiến và các tàu thuyền khác của nhà nước được dùng vào những mục đích không thương mại từ Điều 29 đến Điều 32.

Trong trường hợp, nếu một tàu quân sự không tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển, có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuân theo các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốc gia ven biển có thể yêu cầu chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức.

Quốc gia mà tàu mang cờ phải chịu trách nhiệm quốc tế về mọi tổn thất hoặc về mọi thiệt hại gây ra cho quốc gia ven biển do một tàu quân sự hay bất kỳ tàu thuyền nào khác của nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại vi phạm các luật và các quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua lãnh hải hay vi phạm các quy định của Công ước hoặc các quy tắc khác của pháp luật quốc tế.

Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển: Tại Luật biển Việt Nam 2012 có những quy định cụ thể về thẩm quyền tài phán về hình sự và dân sự tại Điều 30 và 31, các quy định này được thừa kế Điều 27, 28 Luật biển 1982.

Như vậy, Luật biển Việt Nam đã dựa trên cơ sở của Luật biển quốc tế để đưa ra những cách xác định các vùng biển hợp lý nhất, đảm bảo lợi thế và quyền của Việt Nam là tối đa nhất trong khuôn khổ được cộng đồng quốc tế công nhận, từ đó ta thấy, Luật biển 1982 chính là Công ước chung cho tất cả các chủ thể của Luật Quốc tế và là căn cứ, chế định pháp lý cơ bản để các nhà làm luật đưa ra những quy định cụ thể cho tình hình Việt Nam. Rõ ràng, sự tương thích về nội thủy và lãnh hải ở đây là rất lớn, bởi các quy định của Luật biển Việt Nam 2012 đều căn cứ trên các quy định của Công ước quy định về nội thủy và lãnh hải. Tuy nhiên, hiện nay tình hình Biển Đông có nhiều vấn đề phức tạp, các nước có biểu hiện không thực thi Luật biển 1982, tàu thuyền các nước đi vào các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền có những hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam. Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, đánh bắt hải sản trái phép, xâm phạm kinh tế biển Việt Nam. Chính vì vậy, cần phải có Luật Kinh tế biển Việt Nam để xây dựng một khung pháp lý cho các hoạt động trên biển, yêu cầu các quốc gia cần tuân thủ thực thi các chế độ pháp luật của Việt Nam theo đúng quy chế. Với nội dung của bài viết này về quyền tài phán của quốc gia ven biển tại các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự, phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng quan hệ quốc tế trên các vùng biển Việt Nam, tạo môi trường hoà bình và ổn định trong khu vực.

Ngô Thị Mai – Trường Cán bộ Tòa án